Màng
bọc ngoài của nhân hạt đậu phộng có tác dụng chống sự hòa tan của fibrin, thúc
đẩy công năng tạo tiểu cầu của tủy xương, rút ngắn thời gian chảy máu, do đó có
tác dụng cầm máu tốt. Trong vỏ cứng của củ đậu phộng có chất luteolin có tác
dụng hạ huyết áp, chất beta-stosterol có tác dụng hạ mỡ máu.
Theo
Đông y thì đậu phộng tính bình, vị ngọt. Nhân đậu phộng có tác dụng dưỡng huyết,
bổ tỳ, nhuận phế, hóa đàm, chủ trị các chứng bệnh như ho, thở gấp, người có thai
bị phù, sản phụ thiếu sữa, người bị loét dạ dày và hành tá tràng, thiếu máu...
Màng bọc ngoài của nhân lạc có tác dụng lương huyết. Dau dau
phong
có tác dụng nhuận tràng, chủ trị các chứng bệnh tắc do
giun đũa, khô táo ruột, bí đại tiện, nhau thai không ra, bỏng...
Rễ
cây đậu phộng có tác dụng trừ phong khử thấp, thanh nhiệt, an thần, chủ trị đau
khớp.
Lá đậu phộng chủ trị chứng mất ngủ. Vỏ cứng của củ đậu
phộng có tác dụng tiêu tích hành trệ, chủ trị các chứng bệnh cao huyết áp, cao
cholesterol máu...
 |
|
Thân rễ lá cây đậu
phộng có nhiều tác dụng trong chữa bệnh |
Một
số bài thuốc từ hạt lạc(đậu phộng):
-Ho
đờm nhiều: Nhân đậu phộng 30g, nấu chín nhừ cho vào trong 30 g mật ong, ngày ăn
2 lần.
-Ho
lâu ngày không khỏi: Nhân đậu phộng, táo tàu, mật ong mỗi thứ 30 g sắc lấy nước,
ngày uống 2 lần.
-Ho
lâu ngày, khí đoản, đờm ít: Nhân đậu phộng 15 g, hạnh nhân ngọt 15 g giã nát,
mỗi lần làm 10 g, thêm mật ong lượng vừa phải, hòa với nước sôi ăn.
-Viêm
khí quản mạn tính: Dùng vào buổi sáng và tối, mỗi lần ăn 30g đậu phộng.
-Tiếng
nói khàn: Nhân đậu phộng (để cả màng mỏng ngoài nhân) 60-100 g, nấu ăn. Ngày ăn
1 lần, hoặc cho mật ong lượng vừa phải vào ăn cùng càng tốt.
-Cao
huyết áp: Nhân lạc để cả màng mỏng ngoài nhân, ngâm trong dấm, bịt kín miệng lọ,
ăn sau khi ngâm 1 tuần, mỗi lần ăn 10 hạt, ngày ăn 2 lần.
 |
|
Hạt lạc chất lượng |
Hoặc:
- Vỏ cứng củ đậu phộng mỗi lần 125 g, nấu lấy nước uống hoặc nấu vỏ đậu
phộng nghiền vụn, lấy nước uống mỗi lần 10 g, ngày uống 3 lần.
-
Lá lạc, thân cây đậu phộng non mỗi thứ 30 g, sắc lấy nước uống, ngày 1
thang.
-Bạch
cầu giảm: Màng mỏng bọc nhân đậu phộng 10 g, táo tàu 10 quả, nấu ăn. Hoặc:
Nhân đậu phộng, ý dĩ nhân (hạt bo bo), đậu đỏ loại nhỏ hạt, táo tàu mỗi thứ 30
g, nấu ăn, ngày 1 thang.
Thiếu
máu: Nhân đậu phộng 100 g, táo tàu, đường đỏ mỗi thứ 50 g; nấu nhừ lên ăn, ngày
1 lần.
Hoặc:
Nhân đậu phộng, đậu đỏ, đậu xanh mỗi thứ 30 g; đường đỏ, đường trắng, đường phèn
mỗi thứ 10 g; nấu nhừ ăn, mỗi ngày 1 lần.
Nhân đậu
phộng, hạt sen (bỏ vỏ và tâm sen) mỗi thứ 30 g; cẩu khởi 15 g, táo tàu 9 quả,
đường đỏ lượng vừa phải, cho 300ml nước vào nấu cách thủy cho nhừ, ngày ăn 1-2
lần.
-Loét
dạ dày và hành tá tràng: đậu phộng nhân 100 g nấu lẫn với thịt lợn hoặc trứng gà
để ăn. Mỗi buổi sáng sau khi đánh răng, rửa mặt, ăn 2 thìa dầu đậu phộng đã nấu,
nửa giờ sau bắt đầu ăn sáng, dùng liên tục như vậy 1-2 tuần là thấy rõ kết
quả.
-Đi
tiểu ra máu do vận động nhiều: đậu phộng nhân, hạt sen đã bỏ vỏ cứng và tâm sen
mỗi thứ 30 g. Nấu sôi xong cho lửa nhỏ hầm thật nhừ, sau đó cho 1 thìa đường vào
đun tiếp, một lúc sau đem ăn, 2 ngày ăn 1 lần.
Hoặc:
Màng mỏng bọc ngoài nhân lạc khoảng nửa chén con, đem rang khô, nghiền vụn, hòa
nước uống ngày 1-2 lần.
-Di
tinh: Màng mỏng bọc ngoài nhân đậu phộng 6 g, nấu lấy nước uống, ngày 2 lần.
-Đau
khớp: Rễ cây đậu phộng 60 g, nấu với ít thịt lợn nạc thật nhừ để ăn.
-Viêm
mũi: đậu phộng nhân 30 g nấu chín, cho thêm ít đường phèn ăn hết trong ngày, ăn
liền trong 2 tuần như vậy là một liệu trình.
Bị
thương do bỏng: Dầu đậu phộng 500 ml đun sôi để nguội, nước vôi
trong 500 ml. Lấy bột vôi chín 500 g, cho thêm 1.000 ml nước đun sôi để nguội,
khuấy đều rồi để yên cho lắng xuống, gạn lọc lấy nước trong. Đem nước này trộn
với dầu phộng nguyên chất để bôi lên vết thương trị
bỏng.
Tham
khảo thêm bài viết "cách làm dầu đậu phộng" nguyên chất để biết thêm thông tin
về loại dầu nguyên chất này.