Theo:
www.khoahoc.com.vn
Nghệ
là cây thảo, thân rễ to, có ngấn, phân nhánh thành nhiều củ, màu vàng sẫm đến
vàng đỏ, rất thơm. Lá mọc thẳng từ thân rễ, gốc thuôn hẹp, đầu hơi nhọn, hai mặt
nhẵn cùng màu lục nhạt, mép nguyên uốn lượn, bẹ lá rộng và dài.
Cụm
hoa hình trụ hay hình trứng đính trên một cán mập dài, mọc từ giữa túm lá, lá
bắc rời, màu rất nhạt, những lá phía dưới mang hoa sinh sản, màu lục hoặc trắng
nhạt, những lá gần ngọn không mang hoa, hẹp hơn và pha màu hồng ở đầu lá, đài có
3 răng không đều, tràng có ống dài, cánh giữa dài hơn các cánh bên, màu vàng.
Quả nang, 3 ô, hạt có áo.
TÁC DỤNG DƯỢC
LÝ :
-
Nghệ
có hoạt tính chống viêm cấp tính và viêm mạn tính trong các mô
hình gây phù bàn chân và gây u hạt thực nghiệm trên chuột cống trắng - Đồng thời
có tác dụng gây thu teo tuyến ức chuột cống đực non. Đó là những tác dụng điển
hình của thuốc chống viêm. Tinh dầu nghệ có hoạt tính chống viêm khớp thực
nghiệm. Curcumin và các dẫn chất là những hoạt chất của nghệ. Cơ chế chống viêm
có thể do tác dụng loại trừ các gốc tự do có vai trò quan trọng trong quá trình
viêm.
-
Nghệ
có hoạt tính chống loét dạ dày và chống rối loạn tiêu hóa. Cao chiết từ nghệ
cho thỏ uống làm giảm tiết dịch vị, tăng lượng chất nhầy trong dịch vị, bảo vệ
niêm mạch dạ dày tá tràng, chống thương tổn loét gây bởi thắt môn vị và bởi
stress do cầm giữ, nhịn đói và do tác dụng phụ của một số
thuốc.
Nghệ kích thích sản sinh chất nhầy ở thành dạ dày.
Curcumin ức chế sự tạo khí trong ruột.
-Tinh
dầu nghệ làm tăng tiết mật và kích thích co cơ túi mật trong thử nghiệm trên
chó. Cao chiết từ nghệ có tác dụng dự phòng chống tổn thương gan gây thực nghiệm
trên động vật.
Tinh
dầu và một số thành hóa học của nghệ có tác dụng ức chế nhiều loài vi khuẩn và
nấm gây bệnh trong đó có trực khuẩn lao, các trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực
khuẩn thương hàn, trực khuẩn coli, nấm candida albicans. Cao chiết từ nghệ có
tác dụng ức chế lỵ amip. Dịch chiết từ lá nghệ diệt ấu trùng muỗi.
DƯỢC LÝ LÂM
SÀNG:
Một
nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cho thấy, curcumin có tác
dụng cải thiện đối với sự cứng đơ khớp buổi sáng, sưng khớp và về thời gian đi
bộ.
Viêm
kim truật, bào chế từ tinh nghệ và bạch truật, đã được dùng điều trị loét dạ
dày, tá tràng trên lâm sàng với kết quả làm giảm khá nhanh các cơn đau, làm giảm
độ acid dịch vị, các triệu chứng rối loạn tiêu hóa đều khỏi, nhưng chưa thấy rõ
sự thay đổi hình ảnh chụp X-quang của vết loét, viên hương nghệ bào chế từ tinh
nghệ vàng, mai mực, hương phụ, cà độc dược, áp dụng cho bệnh nhân viêm loét dạ
dày, có tác dụng làm hết đau thượng vị, hết ợ chua, ợ hơi, hết cơn đau về
đêm.
-
Cao dán nhọt bào chế từ nghệ và một số dược liệu khác, áp dụng điều trị cho 30
bệnh nhân bị mụn nhọt, đã đạt tỷ lệ khỏi và đỡ là 84%. Việc điều trị đơn giản,
không phải rạch, chích, không cần dùng kháng sinh, bông băng.
CÔNG
DỤNG:
Nghệ
được dùng để điều trị trong các trường hợp bị đòn ngã tổn thương ứ máu, viêm
loét dạ dày, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da. Nghệ còn
được dùng chữa bế kinh, tích huyết tử cung, sau khi sinh máu xấu không ra, kết
hoàn cục gây đau bụng. Ngày uống 2-6g, chia làm 2-3 lần, dưới dạng bột, tinh bột
nghệ hoặc thuốc sắc nước nghệ tươi uống.
Dùng
ngoài nghệ tươi giã nát, vắt lấy nước để bôi lên ung nhọt, lở loét, các mụn mới
khỏi để đỡ sẹo. Nghệ còn được dùng ở một số nước khác trị ho, lao phổi.
Một
số cơ thể có đường tiêu hóa kém không nên sử dụng nghệ tươi và bột nghệ nhiều vì
trong nghệ tươi bà bột nghệ có dầu nghệ gây vàng da và táo bón, hại gan, thận
cho người sử dụng.
CÁC BÀI THUỐC CÓ
NGHỆ:
Chữa
viêm loét dạ dày tá tràng, đau vùng dạ dày, ợ hơi, ợ chua
Nghệ
10g, trần bì 12g, khổ sâm 12g, hương phụ 10g, bồ công anh 10g, ngải cứu 8g. Dùng
dạng thuốc bột. Ngày uống 10-20g, chia 2 lần.
Nghệ
12g, đỗ đen sao 20g, sâm bố chính 12g, hoài sơn 12g, thổ phục linh 10g, trần bì
10g, mật ong 10g. Dạng thuốc hoàn, ngày uống 10-20g.
Chữa
viêm gan virus cấp tính
Nghệ
12g, nhân trần, bồ công anh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 40g, chi tử 16g, đại hoàng sao
12g, hoàng liên 8g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm gan,
suy gan, vàng da
Nghệ
5g, bồ bồ 10g, dành dành 5g, râu ngô 5g. Uống ngày một thang, bào chế thành dạng
siro hoặc cốm.
Nghệ
2g, rau má 4g, núc nác 3g, nhân trần hoặc bồ bồ 3g, sài hồ nam (lức), dành dánh,
nhọ nồi, hậu phác nam (vối rừng), mỗi vị 2g.
Nghệ,
dành dành, hậu phác được tán bột mịn, các vị khác nấu cao nước đặc, làm hoàn.
Ngày uống 10g.
Chữa
thổ huyết, chảy máu cam
Hòa
4-6g Tinh bột Nghệ vàng vào nước uống ngày 2 lần sáng-tối.
Chữa
sỏi mật, làm mòn sỏi
Kim
tiền thảo 40g, nghệ, vân mộc hương, nhân trần, chỉ xác, đại hoàng, mỗi vị 12g.
Sắc uống ngày 1 thang.
Phòng
và chữa tích huyết tử cung sau khi sinh Nghệ 1 củ, nướng
nhai ăn-hoặc nghệ tươi giã nhuyễn lọc lấy nước cốt, cho nước lọc vào và lắng lấy
tinh đọng bên dưới,đun sôi dùng hàng ngày.
Chữa
đau kinh
Nghệ
12g, ích mẫu 20g, sinh địa 16g, huyền sâm 16g, địa cốt bì 12g, đào nhân, hương
phụ, thanh bì, mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày.
Nghệ
8g, ích mẫu 16g, đào nhân, xuyên khung, ngưu tất, hương phụ, mỗi vị 8g. Sắc uống
trong ngày.
Cao
dán nhọt
ghệ
60g, củ ráy 80g, dầu vừng 80g, nhựa thông 40g, sáp ong 40g. Củ ráy gọt sạch vỏ,
cùng giã với nghệ cho thật nhỏ, cho vào nấu nhừ với nhựa thông, dầu vừng và sáp
ong. Lọc, để nguội, phết lên giấy bản, dán vào mụn nhọt.